I have heard that on one occasion the Blessed One was staying at Rajagaha, in Jivaka Komarabhacca's mango grove, with a large community of monks — 1,250 monks in all. Now at that time — it being the observance day, the full-moon night of the water-lily season, the fourth month of the rains — King Ajatasattu of Magadha, the son of Queen Videha, was sitting on the roof terrace of his palace surround by his ministers. Then he felt inspired to exclaim: "How wonderful is this moonlit night! How beautiful... How lovely... How inspiring... How auspicious is this moonlit night! What priest or contemplative should we visit tonight who might enlighten and bring peace to our mind?"


Như vậy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá) nơi vườn xoài của J́vaka (Kỳ bà) Komàrabhacca, cùng với đại chúng Tỷ-kheo một ngh́n hai trăm năm mươi vị. Lúc bấy giờ Ajàtasattu (A-Xà- Thế) con bà Vihehi (Vi Đề Hi) vua xứ Magadha (Ma- Kiệt-Đà) nhẫn lễ Bố Tát vào ngày rằm tháng tư Komudi (cây súng) đang ngồi trên lầu cao trang nghiêm, chung quanh có nhiều đại thần hậu hạ. Lúc bấy giờ Ajàtasattu con bà Videhi, vua xứ Magadha, nhân ngày Bố-Tát cảm hứng nói rằng: "Thật khả ái thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật diễm lệ thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật mỹ miều thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật êm dịu thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật điềm lành thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Nay chúng ta nên đến chiêm bái vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, nhờ sự chiêm bái này tâm chúng ta được tịnh tín?".

When this was said, one of the ministers said to the king: "Your majesty, there is Purana Kassapa, the leader of a community, the leader of a group, the teacher of a group, honored and famous, esteemed as holy by the mass of people. He is aged, long gone forth, advanced in years, in the last phase of life. Your majesty should visit him. Perhaps, if you visited him, he would enlighten and bring peace to your mind."

When this was said, the king remained silent.

Khi nghe nói vậy, một đại thần tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi vua nước Magadha: "Tâu Đại vương, có Pùrana Kassapa (Phú-La-Ca-Diếp) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đă lâu năm, đă đến tuổi trưởng thượng. Mong Đại vương đến chiêm bái Pùrana Kassapa này. Chiêm bái Pùrana Kassapa có thể khiến tâm Đại vương được tịnh tín". Khi nghe nói vậy Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói ǵ.

Then another minister said to the king: "Your majesty, there is Makkhali Gosala... Your majesty, there is Ajita Kesakambalin... Your majesty, there is Pakudha Kaccayana... Your majesty, there is Sañjaya Belatthaputta... Your majesty, there is Nigantha Nataputta, the leader of a community, the leader of a group, the teacher of a group, honored and famous, esteemed as holy by the mass of people. He is aged, long gone forth, advanced in years, in the last phase of life. Your majesty should visit him. Perhaps, if you visited him, he would enlighten and bring peace to your mind."

When this was said, the king remained silent.

. Lại một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: "Tâu Đại vương, có Makkhali Gosàla (Mặt-Già-Lê-Cù-Xá-Lợi) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đă lâu năm, đă đến tuổi trưởng thượng. Mong Đại vương chiêm bái Makkhali Gosàla này. Chiêm bái vị Makkhali Gosàla có thể khiến tâm Đại vương được tịnh tín". Khi nghe nói vậy. Ajàtasattu, con bà Videhi vua nước Magadha yên lặng không nói ǵ.

All this time Jivaka Komarabhacca was sitting silently not far from the king. So the king said to him,
"Friend Jivaka, why are you silent?"

Lúc bấy giờ J́vaka Komàrabhacca ngồi yên lặng cách Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha không xa bao nhiêu. Khi ấy Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, nói với J́vaka Komàrabhacca:
- Này khanh J́vaka, sao ngươi lại yên lặng như vậy?

"Your majesty, there is the Blessed One, worthy and rightly self-awakened, staying in my mango grove with a large community of monks — 1,250 monks in all. Concerning this Blessed One, this admirable report has been spread: 'Surely, the Blessed One is worthy and rightly self-awakened, consummate in clear knowing and conduct, well-gone, an expert with regard to the cosmos, unexcelled trainer of tamable people, teacher of beings human and divine, awakened, blessed.' Your majesty should visit him. Perhaps, if you visited him, he would enlighten and bring peace to your mind."

"Then in that case, friend Jivaka, have the riding elephants prepared."

Tâu Đại vương, chính tại vườn xoài này của chúng con, có Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, hiện đang trú ngụ với đại chúng Tỷ-kheo một ngh́n hai trăm năm mươi vị. Thế Tôn Gotama có tiếng đồn tốt đẹp sau đây lan rộng: "Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Đại vương hăy đến chiêm bái Thế Tôn này. Rất có thể, nhờ chiêm bái Thế Tôn, tâm của Đại vương được tịnh tín.
- Vậy khanh J́vaka, hăy cho thắng kiệu voi.
- Vâng, tâu Đại vương.

Having replied, "As you say, your majesty," having had five hundred female elephants prepared as well as the king's personal tusker, Jivaka announced to the king: "Your majesty, your riding elephants are prepared. Do what you think it is now time to do."

. J́vaka Komàrabhacca vâng theo lời dạy của Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, sai người thắng năm trăm con voi cái, và con vương tượng vua thường cởi, rồi tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: "Tâu Đại vương, các kiệu voi đă sẵn sàng. Ngài hăy làm những ǵ Ngài xem là phải thời".

Then the king, having had five hundred of his women mounted on the five hundred female elephants — one on each — and having mounted his own personal tusker, set out from the capital in full royal state, with attendants carrying torches, headed for Jivaka Komarabhacca's mango grove.
But when the king was not far from the mango grove, he was gripped with fear, trepidation, his hair standing on end. Fearful, agitated, his hair standing on end, he said to Jivaka Komarabhacca:
"Friend Jivaka, you aren't deceiving me, are you? You aren't betraying me, are you? You aren't turning me over to my enemies, are you? How can there be such a large community of monks — 1,250 in all — with no sound of sneezing, no sound of coughing, no voices at all?"

Khi bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha biểu các cung phi leo lên năm trăm con voi cái mỗi người một con, c̣n ḿnh th́ leo lên vương tượng vua thường cởi, xuất hành ra khỏi Ràjagaha, dưới ánh sáng của các ngọn đuốc được cầm cao, với oai nghi của bậc đại vương, thẳng tiến đến vườn xoài của J́vaka Komàrabhacca.
Khi Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi đến không xa vườn xoài, ngài bỗng sợ hăi, kinh hoàng, tóc dựng lên. Lúc bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha sợ hăi, kinh hoàng, tóc dựng lên, nói với J́vaka Komàrabhacca:
- Này khanh J́vaka, người phản ta chăng? Này khanh J́vaka, người lường gạt ta chăng? Này khanh J́vaka, ngươi nạp ta cho kẻ thù chăng? Tại sao trong một đại chúng lớn như thế này gần một ngh́n hai trăm năm mươi vị, mà không có một tiếng đằng hắng, không có một tiếng ho, không một tiếng ồn?

"Don't be afraid, great king. Don't be afraid. I'm not deceiving you or betraying you or turning you over to your enemies. Go forward, great king, go forward! Those are lamps burning in the pavilion hall."

Tâu Đại vương, thần không phản lại Ngài, thần không lường gạt Ngài, tâu Đại vương, thần không nạp Ngài cho kẻ thù, tâu Đại Vương, hăy đi thẳng tới; tâu Đại vương hăy đi thẳng tới. Tại chỗ kia trong căn nhà tṛn chỗ có những ngọn đèn đang thắp sáng.

Then the king, going as far on his tusker as the ground would permit, dismounted and approached the door of the pavilion on foot. On arrival, he asked Jivaka:
"Where, friend Jivaka, is the Blessed One?"

Lúc bấy giờ, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi cho đến chỗ voi có thể đi được, rồi xuống voi đi đến cửa căn nhà tṛn. Khi đến nơi liền nói với J́vaka Komàrabhacca:
- Này khanh J́vaka, Thế Tôn ở tại đâu?

"That is the Blessed One, great king, sitting against the middle pillar, facing east, surrounded by the community of monks."

Tâu Đại vương, vị ấy là Thế Tôn. Tâu Đại vương, Thế Tôn ngồi dựa vào cột chính giữa, mặt hướng phía Nam, ngồi trước mặt chúng Tỷ-kheo.

Then the king approached the Blessed One and, on reaching him, stood to one side. As he was standing there — surveying the community of monks sitting in absolute silence, as calm as a lake — he felt inspired to exclaim: "May my son, Prince Udayibhadda, enjoy the same peace that this community of monks now enjoys!"

[The Blessed One said:] "Have you come, great king, together with your affections?"

"Lord, my son, Prince Udayibhadda, is very dear to me. May he enjoy the same peace that this community of monks now enjoys!"

. Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha liền tiến đến chỗ Thế Tôn. Khi đến rồi, vua đứng một bên. Sau đi đứng một bên, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha nh́n khắp chúng Tỷ-kheo đang yên lặng an tịnh như một hồ nước trong, cảm hứng nói rằng: "Mong hoàng tử Udàyibhadda (Ưu-đà-di-bạt-đà) cũng được sự trầm lặng như sự trầm lặng của các vị Tỷ-kheo này vậy".
- Đại vương, h́nh như tâm trí của Đại vương nặng nhiều về t́nh thương th́ phải?
- Bạch Thế Tôn, con thương hoàng tử Udàyibhadda rất nhiều. Mong rằng hoàng tử Udàyibhadda cũng được sự trầm lặng như sự trầm lặng của chúng Tỷ-kheo này vậy.

Then, bowing down to the Blessed One, and saluting the community of monks with his hands palm-to-palm over his heart, he sat to one side. As he was sitting there, he said to the Blessed One:
"I would like to ask the Blessed One about a certain issue, if he would give me the opportunity to explain my question."

"Ask, great king, whatever you like."

Lúc bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, đảnh lễ Thế Tôn, chấp tay vái chào chúng Tỷ-kheo, và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con muốn hỏi Thế Tôn một vấn đề này, nếu Ngài cho phép con hỏi.
- Đại vương cứ hỏi tùy theo ư muốn của Đại vương.

The King's Question

"Lord, there are these common craftsmen: elephant-trainers, horse-trainers, charioteers, archers, standard bearers, camp marshals, supply corps officers, high royal officers, commandos, military heroes, armor-clad warriors, leather-clad warriors, domestic slaves, confectioners, barbers, bath attendants, cooks, garland-makers, laundrymen, weavers, basket-makers, potters, calculators, accountants, and any other craftsmen of a similar sort. They live off the fruits of their crafts, visible in the here and now. They give happiness and pleasure to themselves, to their parents, wives, and children, to their friends and colleagues. They put in place an excellent presentation of offerings to priests and contemplatives, leading to heaven, resulting in happiness, conducive to a heavenly rebirth. Is it possible, lord, to point out a similar fruit of the contemplative life, visible in the here and now?"

Cũng như các công nghệ chức nghiệp này, như điều tượng sư, điều mă sư, xa thuật sư, quân thuật sư, quân kỳ binh, nguyên súy, chiến sĩ, thượng sĩ quan, thám tử, dơng sĩ can đảm như voi chúa, anh hùng, trang giáp binh, nô lệ xuất thân, hỏa đầu quân, thợ hớt tóc, người hầu tắm, thợ làm bánh, nhà làm ṿng hoa, thợ giặt, thợ dệt, nhà làm thúng rổ, thợ đồ gốm, nhà toán số, nhà ấn bản và các công nghệ chức nghiệp khác, chúng hưởng được kết quả thiết thực hiện tại công nghiệp chức nghiệp của chúng. Chúng giúp cho tự thân được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho vợ con được sống an lạc hạnh phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho bạn bè được sống an lạc hạnh phúc. Chúng dâng các vật cúng dường cho Sa-môn, Bà-la-môn, sự cúng dường này có ảnh hưởng đến đời sau, liên hệ đến thiên giới, thọ hưởng phước báo an lạc, thác sanh lên cơi trời. Bạch Đại đức, Ngài có thể chỉ cho rơ ràng kết quả thiết thực, hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?

"Do you remember, great king, ever having asked this question of other priests and contemplatives?"

"Yes, I do."

"If it isn't troublesome for you, how did they answer?"

"No, it's not troublesome for me wherever the Blessed One — or someone like the Blessed One — is sitting."

"Then speak, great king."

Này Đại vương, Đại vương có nhớ đă hỏi câu hỏi ấy với các vị Sa-môn, Bà-la-môn khác chăng?
- Bạch Ngài, con nhớ đă hỏi câu hỏi ấy với Sa-môn, Bà-la-môn khác.
- Này Đại vương, hăy nói lại cho nghe, các vị ấy đă trả lời với Đại vương như thế nào, nếu Đại vương không thấy ǵ trở ngại.
- Bạch Đại đức, con không thấy ǵ trở ngại đối với đức Thế Tôn và các bậc như đức Thế Tôn.
- Vậy Đại vương hăy nói đi.

Non-action

"Once, lord, I approached Purana Kassapa and, on arrival, exchanged courteous greetings with him. After an exchange of friendly greetings and courtesies, I sat to one side. As I was sitting there I asked him: 'Venerable Kassapa, there are these common craftsmen... They live off the fruits of their crafts, visible in the here and now... Is it possible, venerable sir, to point out a similar fruit of the contemplative life, visible in the here and now?'

. Bạch Đại đức, một thời con đến Pùrana Kassapa, khi đến nơi, con nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xă giao với Pùrana Kassapa và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Pùrana Kassapa: "Ngài Kassapa, cũng như các công nghệ, chức nghiệp này, như điều tượng sư, điều mă sư, xa thuật sư, cung thuật sư, quân kỳ binh, nguyên súy, chiến sĩ, thượng sĩ quan, thám tử, dơng sĩ can đảm như voi chúa, anh hùng, trang giáp binh, nô lệ xuất thân, hỏa đầu quân, thợ hớt tóc, người hầu tắm, thợ làm bánh, nhà làm ṿng hoa, thợ giặt, thợ dệt, nhà làm thúng rổ, thợ đồ gốm, nhà toán số, nhà ấn bản và các công nghệ chức nghiệp khác, chúng hưởng được kết quả thiết thực, hiện tại công nghệ chức nghiệp của chúng. Chúng giúp cho tự thân được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho vợ con được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho bạn bè được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng dâng các vật cúng dường cho Sa-môn, Bà-la-môn, sự cúng dường này có ảnh hưởng đến đời sau, liên hệ đến thiên giới, thọ hưởng phước báo an lạc, thác sanh lên cơi trời. Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?"

"When this was said, Purana Kassapa said to me, 'Great king, in acting or getting others to act, in mutilating or getting others to mutilate, in torturing or getting others to torture, in inflicting sorrow or in getting others to inflict sorrow, in tormenting or getting others to torment, in intimidating or getting others to intimidate, in taking life, taking what is not given, breaking into houses, plundering wealth, committing burglary, ambushing highways, committing adultery, speaking falsehood — one does no evil. If with a razor-edged disk one were to turn all the living beings on this earth to a single heap of flesh, a single pile of flesh, there would be no evil from that cause, no coming of evil. Even if one were to go along the right bank of the Ganges, killing and getting others to kill, mutilating and getting others to mutilate, torturing and getting others to torture, there would be no evil from that cause, no coming of evil. Even if one were to go along the left bank of the Ganges, giving and getting others to give, making sacrifices and getting others to make sacrifices, there would be no merit from that cause, no coming of merit. Through generosity, self-control, restraint, and truthful speech there is no merit from that cause, no coming of merit.'

Bạch đại đức, khi nghe nói vậy, Pùrana Kassapa đă nói với con: "Này Đại vương, tự làm hay khiến người làm, chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn hay khiến người gây phiền muộn, gây áo năo hay khiến người gây áo năo, tự ḿnh gây sợ hăi hay khiến người gây sợ hăi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo, hành động như vậy không có tội ác ǵ. Nếu lấy một bánh xe sắc bén giết hại tất cả chúng sanh trên cơi đất thành một đống thịt, thành một chồng chịt, cũng không v́ vậy mà có tội ác, mà gây ra tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu, khiến người đốt nấu, cũng không v́ vậy mà có tội ác, mà gây ra tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ, cũng không v́ vậy mà có phước báo".

"Thus, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here and now, Purana Kassapa answered with non-action. Just as if a person, when asked about a mango, were to answer with a breadfruit; or, when asked about a breadfruit, were to answer with a mango: In the same way, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here and now, Purana Kassapa answered with non-action. The thought occurred to me: 'How can anyone like me think of disparaging a priest or contemplative living in his realm?' Yet I neither delighted in Purana Kassapa's words nor did I protest against them. Neither delighting nor protesting, I was dissatisfied. Without expressing dissatisfaction, without accepting his teaching, without adopting it, I got up from my seat and left.

Bạch Đại đức, khi được hỏi về kết quả hiện tại thiết thực của hạnh Sa-môn, Pùrana Kassapa đă trả lời với thuyết vô nghiệp. Bạch Đại đức, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, Bạch Đại đức, khi được hỏi về kết quả hiện tại thiết thực của hạnh Sa-môn, Purana Kassapa đă trả lời với thuyết vô nghiệp, bạch Đại đức, con nghĩ: "Làm sao một người như con lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui ḷng?" V́ vậy bạch Đại đức, con không tán thán, cũng không cật nạn lời nói của Pùrana Kassapa. Không tán thán, không cật nạn, dầu không măn nguyện cũng không thốt ra lời bất măn, không công nhận cũng như không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.

Purification through Wandering-on

"Another time I approached Makkhali Gosala and, on arrival, exchanged courteous greetings with him. After an exchange of friendly greetings and courtesies, I sat to one side. As I was sitting there I asked him: 'Venerable Gosala, there are these common craftsmen... They live off the fruits of their crafts, visible in the here and now... Is it possible, venerable sir, to point out a similar fruit of the contemplative life, visible in the here and now?'

Bạch Đại đức, một thời con đến Makkhali Gosàla (Mạt-già-lê-cù-xá-lợi). Khi đến nơi, con nói lên những lời đón chào tụng thân hữu và xă giao với Makkhali Gosàla và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Makkhali Gosàla: "Ngài Gosàla, cũng như các công kỹ nghệ chức nghiệp như điều tượng sư... (như trên)... Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?"

"When this was said, Makkhali Gosala said to me, 'Great king, there is no cause, no requisite condition, for the defilement of beings. Beings are defiled without cause, without requisite condition. There is no cause, no requisite condition, for the purification of beings. Beings are purified without cause, without requisite condition. There is nothing self-caused, nothing other-caused, nothing human-caused. There is no strength, no effort, no human energy, no human endeavor. All living beings, all life, all beings, all souls are powerless, devoid of strength, devoid of effort. Subject to the changes of fate, serendipity, and nature, they are sensitive to pleasure and pain in the six great classes of birth.

Bạch Đại đức, khi nghe nói vậy, Makkhali Gosàla đă nói với con: "Này Đại vương, không có nhơn, không có duyên, các loài hữu t́nh bị nhiễm ô; vô nhân, vô duyên, các loài hữu t́nh bị nhiễm ô. Không có nhân, không có duyên, các loài hữu t́nh được thanh tịnh; vô nhân, vô duyên, các loài hữu t́nh được thanh tịnh. Không có tự tác, không có tha tác, không có nhân tác, không có lực, không có tinh tấn, không có nhân lực, không có sự cố gắng của người. Tất cả loài hữu t́nh, tất cả sanh vật, tất cả sinh loại, tất cả sinh mạng đều không tự tại, không lực, không tinh tấn. Chúng bị dắt dẫn, chi phối bởi định mệnh, bởi điều kiện bộ loại của chúng, bởi cá tánh của chúng. Chúng hưởng thọ khổ lạc, y theo sáu loại thác sanh của chúng.

"'There are 1,406,600 principle modes of origin. There are 500 kinds of kamma, five kinds, and three kinds; full kamma and half kamma. There are 62 pathways, 62 sub-eons, six great classes of birth, eight classes of men, 4,900 modes of livelihood, 4,900 kinds of wanderers, 4,900 Naga-abodes, 2,000 faculties, 3,000 hells, 36 dust-realms, seven spheres of percipient beings, seven spheres of non-percipient beings, seven kinds of jointed plants, seven kinds of devas, seven kinds of human beings, seven kinds of demons, seven great lakes, seven major knots, seven minor knots, 700 major precipices, 700 minor precipices, 700 major dreams, 700 minor dreams, 84,000 great aeons. Having transmigrated and wandered on through these, the wise and the foolish alike will put an end to pain.

Có tất cả là một triệu bốn trăm ngàn chủng loại thác sanh, lại có thể sáu ngàn và có thêm sáu trăm nữa. Có năm trăm loại nghiệp và có năm nghiệp (theo năm căn), lại có ba nghiệp (về thân, khẩu, ư) lại có toàn nghiệp (thân và khẩu) và bán nghiệp (ư), có sáu mươi hai đạo, sau mươi hai trung kiếp, sáu giai cấp, tám nhân địa, bốn ngàn chín trăm sanh nghiệp, bốn ngàn chín trăm kẻ du hành, bốn ngàn chín trăm chỗ ở của loài Naga, hai ngh́n căn, ba ngh́n cảnh địa ngục, ba mươi sáu trần giới, bảy tưởng thai, bảy vô tưởng thai, bảy tiết thai (sanh từ đốt), bảy loài thiên, bảy loài người, bảy loài quỷ, bảy hồ nước, bảy pavutas (rừng hay hồ nhỏ) bảy trăm pavutas bảy vực thẳm, bảy trăm papatas (vực thẳm), bảy mộng, bảy trăm mộng, có tám trăm bốn mươi vạn đại kiếp, trong thời gian ấy kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ trừ tận khổ đau.

"'Though one might think, "Through this morality, this practice, this austerity, or this holy life I will ripen unripened kamma and eliminate ripened kamma whenever touched by it" — that is impossible. Pleasure and pain are measured out, the wandering-on is fixed in its limits. There is no shortening or lengthening, no accelerating or decelerating. Just as a ball of string, when thrown, comes to its end simply by unwinding, in the same way, having transmigrated and wandered on, the wise and the foolish alike will put an end to pain.'

Không có lời nguyện: với giới hạnh này, với kỷ luật này, với khổ hạnh này hay với phạm hạnh này, tôi sẽ làm cho chín muồi những nghiệp chưa được thuần thục, hoặc trừ diệt những nghiệp đă thuần thục bởi những nhẫn thọ liên tục, không thể đo lường khổ và lạc với những vật đo lường, trong khi luân hồi không có giảm tăng, không có thặng dư, thiếu thốn. Ví như một cuộn chỉ được tung ra sẽ được kéo dài đến mức độ nào đó. Cũng như vậy, kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ trừ tận khổ đau".

"Thus, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here and now, Makkhali Gosala answered with purification through wandering-on. Just as if a person, when asked about a mango, were to answer with a breadfruit; or, when asked about a breadfruit, were to answer with a mango. In the same way, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here and now, Makkhali Gosala answered with purification through wandering-on. The thought occurred to me: 'How can anyone like me think of disparaging a priest or contemplative living in his realm?' Yet I neither delighted in Makkhali Gosala's words nor did I protest against them. Neither delighting nor protesting, I was dissatisfied. Without expressing dissatisfaction, without accepting his teaching, without adopting it, I got up from my seat and left.

. Bạch Đại đức, khi được con hỏi kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Makkhali Gosàla đă trả lời với thuyết luân hồi tịnh hóa. Bạch Đại đức, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, bạch Đại đức, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Makkhali Gosàla đă trả lời với thuyết luân hồi tịnh hóa. Bạch Đại đức, con liền nghĩ: "Làm sao một người như con, lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui ḷng? "V́ vậy, bạch Đại đức, con không tán thán cũng không cật nạn lời nói của Makkhali Gosàla; không tán thán, không cật nạn, dầu không măn nguyện cũng không thốt ra lời bất măn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.

Annihilation

"Another time I approached Ajita Kesakambalin and, on arrival, exchanged courteous greetings with him. After an exchange of friendly greetings and courtesies, I sat to one side. As I was sitting there I asked him: 'Venerable Ajita, there are these common craftsmen... They live off the fruits of their crafts, visible in the here and now... Is it possible, venerable sir, to point out a similar fruit of the contemplative life, visible in the here and now?'

. Bạch Đại đức, một thời con đến Ajita Kesakambàli (A-kỳ-đa-xí-xá-khâm-bà-la) khi đến nơi con nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xă giao với Ajita Kesakambàli , và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Ajita Kesakambala: "Ngài Ajita Kesakambàli , cũng như các công nghệ chức nghiệp như điều tượng sư... (như trên)... Bạch Ngài, Ngài có thể chỉ cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?"

"When this was said, Ajita Kesakambalin said to me, 'Great king, there is nothing given, nothing offered, nothing sacrificed. There is no fruit or result of good or bad actions. There is no this world, no next world, no mother, no father, no spontaneously reborn beings; no priests or contemplatives who, faring rightly and practicing rightly, proclaim this world and the next after having directly known and realized it for themselves. A person is a composite of four primary elements. At death, the earth (in the body) returns to and merges with the (external) earth-substance. The fire returns to and merges with the external fire-substance. The liquid returns to and merges with the external liquid-substance. The wind returns to and merges with the external wind-substance. The sense-faculties scatter into space. Four men, with the bier as the fifth, carry the corpse. Its eulogies are sounded only as far as the charnel ground. The bones turn pigeon-colored. The offerings end in ashes. Generosity is taught by idiots. The words of those who speak of existence after death are false, empty chatter. With the break-up of the body, the wise and the foolish alike are annihilated, destroyed. They do not exist after death.'

Bạch Đại đức, khi được nói vậy, Ajita Kesakambàli đă nói với con: "Này Đại vương, không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có loại hóa sanh, ở đời không có những vị Sa-môn, những vị Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đă tự ḿnh chứng tri giác ngộ đời này đời khác và truyền dạy lại. Con người này do bốn đại hợp thành, khi mệnh chung, địa đại trở về trả lại cho địa giới, thủy đại trở về trả lại cho thủy giới, hỏa đại trở về trả lại cho hỏa giới, phong đại trở về trả lại cho phong giới, các căn nhập vào hư không. Bốn người gánh quan tài với người nằm trong quan tài là năm, gánh người chết mang đi đến chỗ hỏa táng, thốt ra những lời tán tụng, các xương trắng như màu bồ câu và những vật cúng dường trở thành tro bụi, chỉ có người ngu mới tán dương sự bố thí, lời nói của chúng trống không, giả dối, khi chúng chấp thuyết có sự sống. Kẻ ngu cũng như người hiền, sau khi thân hoại mạng chung sẽ đoạn diệt, tiêu thất, không c̣n tồn tại sau khi chết. "

"Thus, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here and now, Ajita Kesakambalin answered with annihilation. Just as if a person, when asked about a mango, were to answer with a breadfruit; or, when asked about a breadfruit, were to answer with a mango. In the same way, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here and now, Ajita Kesakambalin answered with annihilation. The thought occurred to me: 'How can anyone like me think of disparaging a priest or contemplative living in his realm?' Yet I neither delighted in Ajita Kesakambalin's words nor did I protest against them. Neither delighting nor protesting, I was dissatisfied. Without expressing dissatisfaction, without accepting his teaching, without adopting it, I got up from my seat and left.

. Bạch Đại đức, khi được con hỏi kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Ajita Kesakambàli đă trả lời với thuyết đoạn diệt. Bạch Đại đức, cũng như hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài, hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít. Cũng vậy, bạch Đại đức, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Ajita Kesakambàli đă trả lời với thuyết đoạn diệt. Bạch Đại đức, con liền nghĩ: "Làm sao một người như con lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui ḷng". V́ vậy bạch Đại đức, con không tán thán, cũng không cật nạn lời nói của Ajita Kesakambàli . Không tán thán, không cật nạn, dầu không măn nguyện cũng không thốt ra lời bất măn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.

Non-relatedness

"Another time I approached Pakudha Kaccayana and, on arrival, exchanged courteous greetings with him. After an exchange of friendly greetings and courtesies, I sat to one side. As I was sitting there I asked him: 'Venerable Kaccayana, there are these common craftsmen... They live off the fruits of their crafts, visible in the here and now... Is it possible, venerable sir, to point out a similar fruit of the contemplative life, visible in the here and now?'

. Bạch Đại đức, một thời con đến Pakudha Kaccayana (Bà-phù-đả-ca-chiên-diên). Khi đến nơi con nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xă giao với Pakudha Kaccàyana và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Pakudha Kaccayana: "Ngài Pakudha Kaccayana, cũng như các công nghệ chức nghiệp, như điều tượng sư... (như trên)... Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?"

"When this was said, Pakudha Kaccayana said to me, 'Great king, there are these seven substances — unmade, irreducible, uncreated, without a creator, barren, stable as a mountain-peak, standing firm like a pillar — that do not alter, do not change, do not interfere with one another, are incapable of causing one another pleasure, pain, or both pleasure and pain. Which seven? The earth-substance, the liquid-substance, the fire-substance, the wind-substance, pleasure, pain, and the soul as the seventh. These are the seven substances — unmade, irreducible, uncreated, without a creator, barren, stable as a mountain-peak, standing firm like a pillar — that do not alter, do not change, do not interfere with one another, and are incapable of causing one another pleasure, pain, or both pleasure and pain.

Bạch Đại đức, khi được nói vậy, Pakudha Kaccàyana nói với con: "Này Đại vương, có bảy thân không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động không chuyển biến, không xâm lăng nhau. Chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau hoặc cả khổ và lạc. Bảy thân ấy là ǵ? Địa thân, thủy thân, hỏa thân, phong thân, khổ, lạc và thứ bảy là mạng. Bảy thân này khômg bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động không chuyển biến, không xâm lăng, chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc.

"'And among them there is no killer nor one who causes killing, no hearer nor one who causes hearing, no cognizer nor one who causes cognition. When one cuts off [another person's] head, there is no one taking anyone's life. It is simply between the seven substances that the sword passes.'

Ở đây không có người giết hại, hoặc có người bị giết hại, người nghe hoặc người nói, người biết hoặc người khiến cho biết. Khi một ai dùng lưởi kiếm sắc bén chém đầu, thời không có ai tước đoạt sanh mạng của ai cả, lưỡi kiếm chỉ rơi vào giữa bảy thân mà thôi".

"Thus, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here and now, Pakudha Kaccayana answered with non-relatedness. Just as if a person, when asked about a mango, were to answer with a breadfruit; or, when asked about a breadfruit, were to answer with a mango. In the same way, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here and now, Pakudha Kaccayana answered with non-relatedness. The thought occurred to me: 'How can anyone like me think of disparaging a priest or contemplative living in his realm?' Yet I neither delighted in Pakudha Kaccayana's words nor did I protest against them. Neither delighting nor protesting, I was dissatisfied. Without expressing dissatisfaction, without accepting his teaching, without adopting it, I got up from my seat and left.

Bạch Đại đức, khi được con hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Pakudha Kaccàyana đả trả lời một việc khác với một quan điểm khác. Bạch Đại đức, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, Bạch Đại đức, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Pakudha Kaccayana đả trả lời một việc khác với một quan điểm khác. Bạch Đại đức, con liền nghĩ: "Làm sao một người như con lại có thể làm một vị Sa-môn, hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui ḷng". V́ vậy, bạch Đại đức, con không tán thán, không cật nạn, bỏ lời nói của Pakudha Kaccayana. Không tán thán, không cật nạn, dầu không măn nguyện, cũng không thốt ra lời bất măn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi và đứng dậy ra về.

Fourfold Restraint

"Another time I approached Nigantha Nataputta and, on arrival, exchanged courteous greetings with him. After an exchange of friendly greetings and courtesies, I sat to one side. As I was sitting there I asked him: 'Venerable Aggivessana, there are these common craftsmen... They live off the fruits of their crafts, visible in the here and now... Is it possible, venerable sir, to point out a similar fruit of the contemplative life, visible in the here and now?'

. Bạch Đại đức, một thời con đến Nigantha Nàtaputta (Ni-kiền-tử). Khi đến nơi, con nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xă giao với Nigantha Nàtaputta và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Nigantha Nàtaputta: "Ngài Aggivessana, các công nghệ chức nghiệp như điều tượng sư, ... (như trên) ... Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn ?"

"When this was said, Nigantha Nataputta said to me, 'Great king, there is the case where the Nigantha — the knotless one — is restrained with the fourfold restraint. And how is the Nigantha restrained with the fourfold restraint? There is the case where the Nigantha is obstructed by all waters, conjoined with all waters, cleansed with all waters, suffused with all waters. This is how the Nigantha is restrained with the fourfold restraint. When the Nigantha — a knotless one — is restrained with such a fourfold restraint, he is said to be a Knotless One (Nigantha), a son of Nata (Nataputta), with his self perfected, his self controlled, his self established.'

Bạch Đại đức, khi được hỏi vậy, Nigantha Nàtaputta nói với con: "Này Đại vương, một người Nigantha (Ni kiền tử) sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Này Đại vương, thế nào là một người Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới? Này Đại vương, một Nigantha sống ǵn giữ đối với tất cả loại nước, ǵn giữ đối với mọi ác pháp, sống tẩy sạch tất cả ác pháp và sống với ư chí ǵn giữ đối với tất cả ác pháp. Này Đại vương, như vậy một Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Này Đại vương, v́ một Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới, nên vị ấy được gọi là Gotatto (một vị đă đi đến đích), Yatatto (một vị đă điều phục tự tâm) và Thitatto (một vị đă an trú được tự tâm)".

"Thus, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here and now, Nigantha Nataputta answered with fourfold restraint. Just as if a person, when asked about a mango, were to answer with a breadfruit; or, when asked about a breadfruit, were to answer with a mango: In the same way, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here and now, Nigantha Nataputta answered with fourfold restraint. The thought occurred to me: 'How can anyone like me think of disparaging a priest or contemplative living in his realm?' Yet I neither delighted in Nigantha Nataputta's words nor did I protest against them. Neither delighting nor protesting, I was dissatisfied. Without expressing dissatisfaction, without accepting his teaching, without adopting it, I got up from my seat and left.

. Bạch Đại đức, khi được con hỏi đến kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Nigantha Nàtaputta đă trả lời với sự chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Bạch Đại đức, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, bạch Đại đức, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Nigantha Nàtaputta đă trả lời với sự chế ngự bởi bốn cấm giới. Bạch Đại đức, con liền nghĩ: "Làm sao một người như con lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui ḷng". V́ vậy, bạch Đại đức, con không tán thán, cũng không cật nạn lời nói của Nigantha Nàtaputta. Không tán thán không cật nạn, dù không măn nguyện, cũng không thốt ra lời bất măn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.

Evasion

"Another time I approached Sañjaya Belatthaputta and, on arrival, exchanged courteous greetings with him. After an exchange of friendly greetings and courtesies, I sat to one side. As I was sitting there I asked him: 'Venerable Sañjaya, there are these common craftsmen... They live off the fruits of their crafts, visible in the here and now... Is it possible, venerable sir, to point out a similar fruit of the contemplative life, visible in the here and now?'

Bạch Đại đức, một hôm con đến Sanjaya Belatthiputta (Tán-nhă-di-Tỳ-la-lê-phất). Khi đến nơi, con nói lên những lời đón chào chúc tụng thân hữu và xă giao với Sanjaya Belatthiputta và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Sanjaya Belatthiputta: "Ngài Sanjaya, các công nghệ chức nghiệp như điều tượng sư... (như trên)... Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?"

"When this was said, Sañjaya Belatthaputta said to me, 'If you ask me if there exists another world [after death], if I thought that there exists another world, would I declare that to you? I don't think so. I don't think in that way. I don't think otherwise. I don't think not. I don't think not not. If you asked me if there isn't another world... both is and isn't... neither is nor isn't... if there are beings who transmigrate... if there aren't... both are and aren't... neither are nor aren't... if the Tathagata exists after death... doesn't... both... neither exists nor exists after death, would I declare that to you? I don't think so. I don't think in that way. I don't think otherwise. I don't think not. I don't think not not.'

Bạch Đại đức, khi được nói vậy, Sanjaya Belatthiputta đă trả lời với con: "Nếu anh hỏi: "Có một thế giới khác hay không?" Nếu tôi nghĩ: "Có một thế giới khác", tôi có thể trả lời với anh: "Có một thế giới khác". Nhưng tôi không nói là như vậy, tôi không nói là như kia, tôi không nói là khác như thế, tôi không nói là không phải thế, tôi không nói là không không phải thế. Nếu anh hỏi tôi: "Không có một thế giới khác phải không?... " (như trên)... (trang 27, đoạn 27)... Cũng có và cũng không có một thế giới khác... Cũng không có và cũng không không có một thế giới khác... Có loài hữu t́nh hóa sanh... Không có loài hữu t́nh hóa sanh... Cũng có và cũng không có loài hữu t́nh hóa sanh... Cũng không có và cũng không không có loài hữu t́nh hóa sanh... Có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác... Không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện ác... Cũng có và cũng không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện ác... Cũng không có và cũng không không có kết quả dị thục của các nghiệp thiện ác... Như Lai có tồn tại sau khi chết... Như Lai không có tồn tại sau khi chết... Như Lai không có và không không có tồn tại sau khi chết. Anh hỏi tôi như vậy. Nếu tôi nghĩ: Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết. Tôi có thể trả lời: Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết. Anh hỏi tôi như vậy. Nếu tôi nghĩ: Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết. Tôi có thể trả lời: Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết. Nhưng tôi không nói là như vậy, tôi không nói là như kia, tôi không nói là khác như thế, tôi không nói là không phải thế, tôi không nói là không không phải thế".

"Thus, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here and now, Sañjaya Belatthaputta answered with evasion. Just as if a person, when asked about a mango, were to answer with a breadfruit; or, when asked about a breadfruit, were to answer with a mango: In the same way, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here and now, Sañjaya Belatthaputta answered with evasion. The thought occurred to me: 'This — among these priests and contemplatives — is the most foolish and confused of all. How can he, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here and now, answer with evasion?' Still the thought occurred to me: 'How can anyone like me think of disparaging a priest or contemplative living in his realm?' Yet I neither delighted in Sañjaya Belatthaputta's words nor did I protest against them. Neither delighting nor protesting, I was dissatisfied. Without expressing dissatisfaction, without accepting his teaching, without adopting it, I got up from my seat and left.

. Bạch Đại đức, khi được con hỏi kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Sanjaya Belatthiputta đă trả lời với Ngụy biện luận. Bạch Đại đức, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít , hoặc hỏi trái mít lại trả lời trái xoài . Cũng vậy, bạch Đại đức, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Sanjaya Belatthiputta đă trả lời với Ngụy biện luận. Bạch Đại đức, con liền nghĩ: "Làm sao một người như con, lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui ḷng". V́ vậy, Bạch Đại đức, con không tán thán cũng không cật nạn lời nói của Sanjaya Belatthiputta. Không tán thán, không cật nạn, dầu không măn nguyện, cũng không thốt ra lời bất măn. Không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.

The First Visible Fruit of the Contemplative Life

"So, lord, I ask the Blessed One as well: There are these common craftsmen: elephant-trainers, horse-trainers, charioteers, archers, standard bearers, camp marshals, supply corps officers, high royal officers, commandos, military heroes, armor-clad warriors, leather-clad warriors, domestic slaves, confectioners, barbers, bath attendants, cooks, garland-makers, laundrymen, weavers, basket-makers, potters, calculators, accountants, and any other craftsmen of a similar sort. They live off the fruits of their crafts, visible in the here and now. They give happiness and pleasure to themselves, to their parents, wives, and children, to their friends and colleagues. They put in place an excellent presentation of offerings to priests and contemplatives, leading to heaven, resulting in happiness, conducive to a heavenly rebirth. Is it possible, lord, to point out a similar fruit of the contemplative life, visible in the here and now?"

Vậy nên bạch Đại đức, con cũng hỏi Thế Tôn. bạch Đại đức, cũng như các công nghệ chức nghiệp. Như điều tượng sư, điều mă sư, xa thuật sư, cung thuật sư, quân kỳ binh, nguyên soái, chiến sĩ, thượng sĩ quan, thám tử, dũng sĩ can đảm như voi chúa, anh hùng, trang giáp binh, nô lệ xuất thân, hỏa đầu quân, thợ hớt tóc, người hầu tắm, thợ làm bánh, nhà ṿng hoa, thợ giặt, thợ dệt, nhà làm thúng rổ, thợ đồ gốm, nhà toán số, nhà ấn bản, các công nghệ chức nghiệp khác. Chúng hưởng được kết quả thiết thực hiện tại công nghệ chức nghiệp của chúng. Chúng giúp cho tự thân được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống an lạc hạnh phúc. Chúng giúp cho bạn bè được sống an lạc hạnh phúc. Chúng dâng các vật cúng dường cho Sa-môn, Bà-la-môn, sự cúng dường này có ảnh hưởng đến đời sau, liên hệ đến thiên giới, thọ hưởng phước báo an lạc, thác sanh lên cơi trời. Bạch Đại đức, Đại đức có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?

"Yes, it is, great king. But first, with regard to that, I will ask you a counter-question. Answer however you please. Suppose there were a man of yours: your slave, your workman, rising in the morning before you, going to bed in the evening only after you, doing whatever you order, always acting to please you, speaking politely to you, always watching for the look on your face. The thought would occur to him: 'Isn't it amazing? Isn't it astounding? — the destination, the results, of meritorious deeds. For this King Ajatasattu is a human being, and I, too, am a human being, yet King Ajatasattu enjoys himself supplied and replete with the five strings of sensuality — like a deva, as it were — while I am his slave, his workman... always watching for the look on his face. I, too, should do meritorious deeds. What if I were to shave off my hair and beard, put on the ochre robes, and go forth from the household life into homelessness?'

- Đại vương có thể được. Này Đại vương, ta sẽ hỏi Đại vương về vấn đề này. Đại vương hăy trả lời tùy theo ư muốn của Đại vương. Đại vương nghĩ sao? Nếu Đại vương có một người nô bộc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp ḷng mọi người, lời nói kính ái, chú ư từng nét mặt (của Đại vương). Người ấy nghĩ: "Thật hy hữu thay! Thật kỳ diệu thay quả vị thác sanh của các công đức, quả dị thục của các công đức. Đức vua Ajàtasattu, con của bà Videhi của nước Magadha, là người, tôi đây là người. Vị vua Ajàtasattu con bà Videhi, của nước Magadha, sống tận hưởng đầy đủ năm món dục lạc, tôi nghĩ không khác ǵ vị thiên thần, c̣n tôi là người nô bộc, làm mọi công việc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp ḷng mọi người, lời nói kính ái, chú ư từng nét mặt (của vua). Vậy ta hăy làm các công đức như vua kia, ta hăy cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đ́nh xuất gia tu đạo".

"So after some time he shaves off his hair and beard, puts on the ochre robes, and goes forth from the household life into homelessness. Having thus gone forth he lives restrained in body, speech, and mind, content with the simplest food and shelter, delighting in solitude. Then suppose one of your men were to inform you: 'You should know, your majesty, that that man of yours — your slave, your workman... always watching for the look on your face... has gone forth from the household life into homelessness... content with the simplest food and shelter, delighting in solitude.' Would you, thus informed, say, 'Bring that man back to me. Make him again be my slave, my workman... always watching for the look on my face!'?"

Và người nô lệ ấy, một thời khác, cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, sống chế ngự lời nói, sống chế ngự ư nghĩ, bằng ḷng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỉ sống an tịnh. Nếu những người của Đại vương đến tâu với Đại vương. "Đại vương có biết chăng? Có người nô bộc của Đại vương, làm mọi công việc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp ḷng mọi người, lời nói kính ái, chú ư từng nét mặt (của Đại vương). Tâu Đại vương, người ấy đă cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, chế ngự lời nói, chế ngự ư nghĩ, bằng ḷng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỷ sống trong an tịnh". Này Đại vương, Đại vương có nói như vậy chăng?: "Người ấy hăy lại với ta, hăy làm lại người nô bộc, làm mọi công việc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp ḷng mọi người, lời nói kính ái chú ư từng nét mặt".

"Not at all, lord. Rather, I am the one who should bow down to him, rise up out of respect for him, invite him to a seat, invite him to accept gifts of robes, almsfood, lodgings, and medicinal requisites for the sick. And I would provide him with righteous safety, defense, and protection."

. Bạch Đại đức, không như vậy. Trái lại chúng con kính lễ người ấy, đứng dậy trước người ấy, mời người ấy ngồi xuống ghế, cúng dường người ấy các dụng cụ như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc men trị bệnh và chúng con sẽ ra lệnh để bảo vệ, che chở người ấy đúng theo luật pháp.

"So what do you think, great king. With that being the case, is there a visible fruit of the contemplative life, or is there not?"

"Yes, lord. With that being the case, there certainly is a visible fruit of the contemplative life."

"This, great king, is the first fruit of the contemplative life, visible in the here and now, that I point out to you."

Này Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Nếu quả như vậy, th́ đó có phải chăng là kết quả thiết thực hiện tại hạnh Sa-môn?
- Bạch Đại đức, như vậy chính là kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn.
- Này Đại vương đó là kết quả thiết thực hiện tại thứ nhất của hạnh Sa-môn mà Ta đă tŕnh bày.

The Second Visible Fruit of the Contemplative Life

"But is it possible, lord, to point out yet another fruit of the contemplative life, visible in the here and now?"

Bạch Đại đức, có thể cho biết một kết quả thiết thực hiện tại khác hơn nữa của hạnh Sa-môn?

"Yes, it is, great king. But first, with regard to that, I will ask you a counter-question. Answer however you please. Suppose there were a man of yours: a farmer, a householder, a taxpayer swelling the royal treasury. The thought would occur to him: 'Isn't it amazing? Isn't it astounding? — the destination, the results, of meritorious deeds! For this King Ajatasattu is a human being, and I, too, am a human being, yet King Ajatasattu enjoys himself supplied and replete with the five strings of sensuality — like a deva, as it were — while I am a farmer, a householder, a taxpayer swelling the royal treasury. I, too, should do meritorious deeds. What if I were to shave off my hair and beard, put on the ochre robes, and go forth from the household life into homelessness?'

- Này Đại vương, có thể được. Này Đại vương. Ta sẽ hỏi Đại vương về vấn đề này. Đại vương hăy trả lời tùy theo ư muốn của Đại vương. Đại vương nghĩ sao? Nếu Đại vương có một người nông phu, gia chủ, nạp thuế má, làm giàu công khố. Người ấy nghĩ: "Thật hy hữu thay! Thật kỳ diệu thay quả vị thác sanh của các công đức, quả vị thục của các công đức. Vị vua Ajàtasattu, con của bà Videhi, nước Magadha, là người, tôi cũng là người. Vị vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha, sống tận hưởng đầy đủ năm món dục lạc, tôi nghĩ không khác ǵ vị thiên thần. C̣n tôi là người nông phu, gia chủ, nạp thuế má, làm giàu công khố. Vậy ta hăy làm các công đức như vua kia. Ta hăy cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh, xuất gia tu đạo".

"So after some time he abandons his mass of wealth, large or small; leaves his circle of relatives, large or small; shaves off his hair and beard, puts on the ochre robes, and goes forth from the household life into homelessness. Having thus gone forth he lives restrained in body, speech, and mind, content with the simplest food and shelter, delighting in solitude. Then suppose one of your men were to inform you: 'You should know, your majesty, that that man of yours — the farmer, the householder, the taxpayer swelling the royal treasury... has gone forth from the household life into homelessness... content with the simplest food and shelter, delighting in solitude.' Would you, thus informed, say, 'Bring that man back to me. Make him again be a farmer, a householder, a taxpayer swelling the royal treasury!'?"

- Và người nông phu ấy, một thời khác, cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, chế ngự lời nói, chế ngự ư nghĩ, bằng ḷng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỷ sống an tịnh. Nếu những người của Đại vương đến tâu với Đại vương: "Đại vương có biết chăng? Có người nông phu của Đại vương, người gia chủ, nạp thuế má, làm giàu công khố. Tâu Đại vương, người ấy đă cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, chế ngự lời nói, chế ngự ư nghĩ, bằng ḷng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỷ sống an tịnh". Này Đại vương, Đại vương có nói: "Người hăy đến lại với ta, hăy làm lại người nông phu, gia chủ, nạp thuế má, làm giàu công khố"?

"Not at all, lord. Rather, I am the one who should bow down to him, rise up out of respect for him, invite him to a seat, invite him to accept gifts of robes, almsfood, lodgings, and medicinal requisites for the sick. And I would provide him with righteous safety, defense, and protection."

"So what do you think, great king. With that being the case, is there a visible fruit of the contemplative life, or is there not?"

"Yes, lord. With that being the case, there certainly is a visible fruit of the contemplative life."

"This, great king, is the second fruit of the contemplative life, visible in the here and now, that I point out to you."

Bạch Đại đức, không như vậy. Trái lại chúng con kính nể người ấy, đứng dậy trước người ấy, mời người ấy ngồi xuống ghế, cúng dường người ấy các dụng cụ như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc men trị bịnh. Và chúng con sẽ ra lệnh để bảo vệ, che chở người ấy đúng theo luật pháp.
- Này Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Nếu quả như vậy thời đó có phải là kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?
- Bạch Đại đức, như vậy chính là kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn.

Higher Fruits of the Contemplative Life

"But is it possible, lord, to point out yet another fruit of the contemplative life, visible in the here and now?"

"Yes, it is, great king. Listen and pay close attention. I will speak.

Bạch Đại đức, có thể cho biết một kết quả thiết thực hiện tại khác nữa của hạnh Sa-môn, vi diệu hơn, thù thắng hơn những kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn vừa kể trên? - Này Đại vương có thể được. Này Đại vương, hăy lóng tai nghe và khéo tác ư, Ta sẽ giảng. - Vâng, Đại đức. Vua Ajàtasattu con bà Videhi vua xứ Magadha trả lời Thế Tôn. Thế Tôn nói:

"There is the case, great king, where a Tathagata appears in the world, worthy and rightly self-awakened. He teaches the Dhamma admirable in its beginning, admirable in its middle, admirable in its end. He proclaims the holy life both in its particulars and in its essence, entirely perfect, surpassingly pure.

Này Đại vương, nay ở đời, Như Lai xuất hiện là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này với thiên giới, ma giới, phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên Nhơn, lại tuyên thuyết điều Ngài đă chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.

"A householder or householder's son, hearing the Dhamma, gains conviction in the Tathagata and reflects: 'Household life is confining, a dusty path. The life gone forth is like the open air. It is not easy living at home to practice the holy life totally perfect, totally pure, like a polished shell. What if I were to shave off my hair and beard, put on the ochre robes, and go forth from the household life into homelessness?'

. Người gia trưởng, hay con vị gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe pháp ấy. Sau khi nghe pháp, người ấy sanh ḷng tín ngưỡng Như Lai. Khi có ḷng tín ngưỡng ấy, vị này suy nghĩ: "Đời sống gia đ́nh đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Đời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đ́nh có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đ́nh". Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ hay tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, và xuất gia từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh.

"So after some time he abandons his mass of wealth, large or small; leaves his circle of relatives, large or small; shaves off his hair and beard, puts on the ochre robes, and goes forth from the household life into homelessness.

Khi đă xuất gia như vậy, vị ấy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ tŕ và học tập trong giới học, thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh. Sanh hoạt trong sạch giới hạnh cụ túc, thủ hộ các căn, chánh niệm tỉnh giác, và biết tri túc.

"When he has thus gone forth, he lives restrained by the rules of the monastic code, seeing danger in the slightest faults. Consummate in his virtue, he guards the doors of his senses, is possessed of mindfulness and alertness, and is content.

Khi đă xuất gia như vậy, vị ấy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ tŕ và học tập trong giới học, thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh. Sanh hoạt trong sạch giới hạnh cụ túc, thủ hộ các căn, chánh niệm tỉnh giác, và biết tri túc.

The Lesser Section on Virtue

"And how is a monk consummate in virtue? Abandoning the taking of life, he abstains from the taking of life. He dwells with his rod laid down, his knife laid down, scrupulous, merciful, compassionate for the welfare of all living beings. This is part of his virtue.

Đại Vương! Thế nào là Tỷ-kheo giới hạnh cụ túc? Ở đây, này Đại Vương, Tỷ-kheo từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quư, có ḷng từ, sống thương xót đến tất cả hạnh phúc của chúng sanh và loài hữu t́nh. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

"Abandoning the taking of what is not given, he abstains from taking what is not given. He takes only what is given, accepts only what is given, lives not by stealth but by means of a self that has become pure. This, too, is part of his virtue.

Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật đă cho, chỉ mong những vật đă cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp, như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

"Abandoning uncelibacy, he lives a celibate life, aloof, refraining from the sexual act that is the villager's way. This, too, is part of his virtue.

Tỳ kheo từ bỏ đời sống gia đ́nh, sống đời độc thân, cách biệt, tự kiềm chế những dục. Đây là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

"Abandoning false speech, he abstains from false speech. He speaks the truth, holds to the truth, is firm, reliable, no deceiver of the world. This, too, is part of his virtue.

Tỷ-kheo từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt, không phản lại đối với đời. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

"Abandoning divisive speech he abstains from divisive speech. What he has heard here he does not tell there to break those peo