CHƯƠNG XII - ĐỊNH - CÁC THẦN THÔNG

 

1. THẦN TÚC THÔNG

 

Sau phần mô tả về 4 đại chủng là nói về các loại thần thông. Ở đây, trước hết bàn về Thần túc thông.

 

Hành giả muốn thực hiện các năng lực thần thông cần phải hoàn tất 8 thiền chứng về các đề mục thiền khởi từ đề mục đất và cuối cùng là đề mục màu trắng. Đồng thời vị ấy c̣n phải tăng trưởng 6 pháp sau đây: Tăng cường Tín, để tâm khỏi dao động; tăng cường Tấn để tâm khỏi giải đăi; tăng cường Niệm để tâm khỏi lơ đễnh (thất niệm); tăng cường Định, để tâm khỏi trạo cử; tăng cường Tuệ, để tâm khỏi mê muội; tăng cường Quán chiếu, để tâm khỏi bị lung lạc (bởi phiền năo). Đó là 6 pháp hỗ trợ làm cho tâm trở nên bất động.

 

Ngoài ra, c̣n có 8 pháp khác dùng để yểm trợ thần thông như sau: Tâm được định tĩnh nhờ định tứ thiền; tâm được thuần tịnh nhờ tách rời các triền cái, tâm được trong sáng nhờ vượt qua tầm; tâm không lỗi lầm nhờ không có các ác dục; tâm được vô nhiễm nhờ các cấu uế biến mất, tâm được nhu nhuyến nhờ sự tự chủ; tâm dễ sử dụng nhờ có quyết tâm; tâm vững chắc nhờ sự tu tập đă viên măn.

 

Thông thường bản luận xếp các thứ thần thông (thành công) thành 10 loại, như sau: 1, Thần thông do quyết định; 2. Thần thông bằng biến hóa; 3. Thần thông bằng thân ư sinh; 4. Thần thông bằng sự can thiệp của trí; 5. Thần thông bằng sự can thiệp của định; 6. Thần thông của các thánh giả; 7. Thần thông do nghiệp; 8. Thần thông do công đức; 9. Thần thông do kỹ thuật; 10. Thần thông do nỗ lực đúng. Đó là 10 loại thần thông.

 

1. Thần thông do quyết định: chẳng hạn hành giả quyết định biến một thân ḿnh thành ra cả trăm, ngh́n thân.

 

2. Thần thông do biến hoá: Hành giả từ bỏ h́nh dáng thông thường và biến thành một cậu bé hay một con rắn.

 

3. Thần thông do thân ư sinh: Hành giả dùng mănh lực của tâm tạo ra một thân người theo ư đồ của ḿnh.

 

4. Thần thông do sự can thiệp của trí: Hành giả vận dụng trí tuệ đoạn trừ các lậu hoặc, đắc A La hán quả, đó là thần thông do trí can thiệp.

 

5. Thần thông do sự can thiệp của định: Như trường hợp tôn giả Xá lợi Phất đang ngồi nhập định ngoài trời vào lúc đêm trăng, bỗng có một ác quỉ đến đánh vào đầu tôn giả vang tiếng như sấm nổ, nhưng tôn giả chẳng hề hấn ǵ cả. Đó là thần thông do định can thiệp.

 

6. Thần thông của các bậc thánh: Hành giả có tâm thản nhiên đối với những ǵ đáng ghê tởm mà không ghê tởm, đó là thần thông của thánh giả.

 

7. Thần thông do quả báo của nghiệp: Như trường hợp chư thiên hay các loài chim bay đi trong không trung, đó là thần thông do nghiệp.

 

8. Thần thông do công đức: Như trường hợp Chuyển luân Vương du hành tự tại trong không gian, đó là thần thông do những công đức.

 

9. Thần thông do kỹ thuật: Như trường hợp những thầy phù thủy dùng bùa chú có thể bay đi trong không trung, đó là thần thông do kỹ thuật.

 

10. Thần thông do nỗ lực đúng: Như hành giả nỗ lực tu tập mà đạt được giải thoát, hay bất cứ người học nghề ǵ, do nỗ lực tối đa mà học tập thành nghề; đó là thần thông do nỗ lực đúng đắn.

 

Trong 10 loại thần thông kể trên, chỉ có thần thông do quyết định, do biến hóa và thân ư sinh là thực sự được gọi là thần thông mà thôi.

 

Bây giờ, để tŕnh bày về những phương diện khác nhau của loại thần túc thông nầy, ở đây, nên trích dẫn một đoạn kinh văn như sau: "Vị ấy một thân hóa thành nhiều thân, nhiều thân trở thành một thân. Vị ấy hiện ra rồi biến mất, hoặc đi ngang qua tường, qua vách núi, qua những chỗ kín bít không bị trở ngại như qua hư không. Vị ấy độn thổ rồi trồi lên mặt đất như thể là ở trong nước; hoặc đi trên nước như đi trên đất. Vị ấy ngồi kiết già mà đi trên hư không như con chim, với bàn tay, vị ấy sờ chạm mặt trăng, mặt trời, và những vật có đại oai lực như thế. Vị ấy thực hiện việc làm chủ thân xác cho đến tận Phạm thiên giới". (D I, 77)

 

Muốn thực hiện được các phép thần thông trên đây, hành giả trước hết phải hoàn tất các vấn đề sau: 1. Bốn cấp thiền; 2. Bốn yếu tố căn bản; 3. Tám bước; 4. Mười sáu trợ duyên và; 5. Trí quyết định.

 

1. Về 4 cấp thiền: như tôn giả Xá lợi Phất đă tŕnh bày: "Sơ thiền, cơi phát sinh do viễn ly; Nhị thiền, cơi của hỉ và lạc; Tam thiền, cơi của xả và lạc; Tứ thiền, cơi của không lạc không khổ. Bốn cơi nầy của Thắng trí đưa đến sự chứng đắc các thần thông". (D. II. 205)

 

2. Bốn yếu tố căn bản: Định do dục và sự quyết tâm; định do tinh tấn và sự quyết tâm; định do thanh tịnh tự nhiên và sự quyết tâm; Định do trạch pháp và sự quyết tâm.

 

3. Tám bước: Y chỉ vào dục đạt được định, nhưng dục khác, định khác (bước 1-2); y chỉ vào tinh tấn đạt được định, nhưng tinh tấn khác, định khác (bước 3-4); y chỉ vào tâm (niệm) đạt được định, nhưng tâm khác, định khác (bước 5-6); y chỉ vào trạch pháp đạt được định, nhưng trạch pháp khác, định khác (bước 7-8).

 

4. Mười sáu trợ duyên: Tâm không chán nản nên không bị giải đăi làm dao động. Tâm không mừng rỡ nên không bị trạo cử làm dao động. Tâm không đam mê th́ không bị tham dục làm dao động. Tâm không oán ghét th́ không bị ác ư làm dao động. Tâm độc lập th́ không bị tà kiến làm dao động. Tâm không dính mắc th́ không bị tham lam làm dao động. Tâm giải thoát th́ không bị ngũ dục làm dao động. Tâm không trói buộc (v́ cấu uế) th́ không bị cấu uế làm dao động. Tâm không c̣n rào ngăn th́ không bị rào ngăn cấu uế làm dao động. Tâm chuyên nhất th́ không bị cấu uế sai biệt làm dao động. Tâm tăng cường với tín, th́ không bị nghi ngờ làm dao động. Tâm tăng cường bởi tấn, th́ không bị uể oải làm dao động. Tâm tăng cường bởi niệm th́ không bị lơ đễnh làm dao động. Tâm tăng cường bởi định, th́ không bị tán loạn làm dao động. Tâm tăng cường bởi tuệ th́ không bị si mê làm dao động. Tâm quán chiếu th́ không bị bóng tối vô minh làm dao động. Đó là 16 trợ duyên đưa đến chứng đắc thần thông (Ps. II, 206).

 

5. Trí quyết định: Hành giả nhập thiền về phương diện thắng trí và xuất thiền, rồi quyết định như sau: "Ta hăy biến ra 100, ta hăy biến ra 100". Đó là trí quyết định

 

Một thân biến thành nhiều thân: Hành giả muốn thực hiện phép thần thông nầy - hay các phép thần thông khác - cần phải vận dụng các pháp trợ duyên đă kể trên, rồi dùng ư chí quyết định: "Ta hăy biến ra nhiều thân.", rồi biến ra nhiều thân. Đó là trường hợp tôn giả Cùla-panthaka (Châu-lợi Bàn-đà), như trong luận đă kể (Ps. II, 207). Tôn giả vốn tối dạ, học cả 4 tháng trời mà không thuộc một bài kệ, người anh thầy định đuổi thầy ra khỏi tu viện, đức Thế Tôn thương t́nh, đưa thầy một miếng giẻ bắt thầy lau bụi. Nhưng lau được một ít lâu, miếng giẻ trở thành màu đen, Thầy nghĩ rằng: "Miếng vải vốn sạch, không có ǵ quấy ở nó, chỉ có chấp ngă là sai lầm.", nhờ thế thầy đắc thiền chứng, và đạt được thần biến, một thân hiện ra nhiều thân.

 

Phép tàng h́nh - làm cho biến mất: Hành giả muốn thực hiện phép thần biến nầy th́ phải xuất khỏi thiền căn bản và tác ư như sau: "Ánh sáng nầy hăy trở thành bóng tối", hoặc "Vật không bị che khuất nầy phải bị che khuất". Thế là vật ấy sẽ khuất dạng không ai c̣n trông thấy nữa.

 

Phép thần thông đi ngang qua vách, qua tường, qua núi, không bị trở ngại như đi trên hư không: Hành giả muốn thực hiện phép thần biến nầy cần phải đắc thiền về biến xứ hư không và xuất thiền, rồi tác ư đến bức tường, bức vách như sau: "Hăy hiện ra hư không", th́ nó sẽ thành hư không. Tuy nhiên, nếu núi hay vách tường đó do một vị có thần thông tạo ra trước, th́ phép thần thông sau không thể hư vô hóa nó được, mà phải đi tránh qua nó.

 

Phép thần thông độn thổ, rồi trồi lên: Một hành giả muốn thực hiện phép nầy th́ phải đắc thiền về biến xứ nước, rồi xuất khỏi thiền ấy, và quyết định rằng: "Đất đai vùng nầy hăy biến thành nước." Thế là đất đai vùng ấy đều hóa thành nước, và vị nầy có thể lặn xuống, trồi lên khỏi mặt đất như ở trong nước. Nhưng chỉ có vị nầy làm được thế, c̣n những người khác vẫn phải đi bộ trên đất ấy, v́ đất vẫn nguyên trạng là đất.

 

Phép thần thông làm cho nước đông cứng: Hành giả muốn thực hiện phép thần biến nầy cần phải đắc thiền về biến xứ đất, rồi xuất thiền, và quyết định: "Nước ở tại chỗ nầy hăy biến thành đất.", thế là nước biến thành đất, và vị nầy có thể đi trên đó. Hơn nữa, vị nầy c̣n có thể biến nước thành ra ngọc, vàng, cây, đá v.v..., nếu vị nầy muốn.

 

Phép thần thông bay trên hư không: Hành giả muốn thực hiện phép nầy cần phải đắc thiền về biến xứ đất, rồi quyết định: "Hăy có đất", thế là đất hiện ra, và vị nầy có thể du hành trên ấy, nhưng vị nầy phải là người đă đắc thiên nhăn, để có thể tránh được những chướng ngại vật như núi, cây v.v..., trên đường đi.

 

Phép thần thông dùng bàn tay rờ mặt trăng, mặt trời: Phép thần biến nầy thực hiện được nhờ đắc thiền và tâm tự tại, chứ không cần phải đắc thiền bằng một biến xứ nào đặc biệt. Vị nầy tác ư đến mặt trời, mặt trăng, và quyết định với trí: "Nó hăy ở trong tầm tay ta.", thế là mặt trăng, mặt trời nằm ngay trong tầm tay, và vị nầy có thể dùng tay sờ mặt trăng, mặt trời.

 

Phép thần thông nhỏ biến thành lớn, lớn biến thành nhỏ: Con độc long Nandopananda ỷ ḿnh có thần thông, đă biến thành vật khổng lồ nằm khoanh núi Tu Di 14 ṿng, rồi tung bụi mù mịt để gây trở ngại đoàn du hành có đức Phật và Thánh chúng. Do đó Phật đă bảo tôn giả Mục Kiền Liên dùng thần lực hàng phục nó. Cuối cùng, nó đă bị chinh phục, và xin quy y Phật.

 

Phép thần thông rút hay tăng đường đất - làm cho xa trở thành gần hay gần thành xa: Hành giả muốn thực hiện phép nầy cần phải là người đă làm chủ được thân xác, và nếu muốn đi đến cơi Phạm thiên, liền quyết định: "Cơi Phạm thiên hăy đến gần đây." thế là nó đến gần. Hoặc đối với một chỗ rất gần nếu muốn nó xa, liền quyết định: "Chỗ này hăy cách xa ra", thế là chỗ ấy cách xa đến một mức độ mà hành giả muốn.

 

Phép thần thông biến ít thành nhiều: Tôn giả Mục Kiền Liên đă thực hiện phép nầy như kinh Bổn Sinh đă kể (Ja. I, 348). Có khi, đức Thế Tôn cũng từng biến một tô cháo, đủ cho cả Tăng chúng dùng một bữa no nê.

 

Ngoài ra, c̣n có các phép thần thông như biến nặng thành nhẹ, biến nhẹ thành nặng, hoặc biến ḿnh thành một con voi hay một em bé, như trường hợp Đề Bà Đạt Đa đă làm (Vin. II, 185).

 

Chương XII nầy bàn về Thần túc thông, đến đây là kết thúc.